Ti vi khách sạn không phải trả phí tác quyền

Ti vi khách sạn không phải trả phí tác quyền

LS. Lê Trọng Thêm(*)

(TBKTSG) – Một lần nữa “cuộc chiến” tính phí tác quyền đối với các tác phẩm âm nhạc trên ti vi giữa 1 bên là Trung tâm Bảo vệ quyền tác fake âm nhạc Việt Nam (VCPMC) và cộng đồng những người khiến trong lĩnh vực khách sạn lại khởi đầu khi VCPMC ban bố Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch đã cho phép thu phí quay lại. Theo đó, từ quí 4-2017 các khách sạn phải trả phí tác quyền cho VCPMC với giá là 25.000 đồng/ti vi/phòng/năm.

Trước đây, VCPMC đã dựa vào quy định về quyền phô diễn tác phẩm trước công chúng theo điều 20.1.b Luật Sở hữu Trí tuệ (SHTT). Tuy nhiên, cơ sở vật chất pháp lý này của VCPMC vấp phải sự phản đối của nhiều chuyên gia luật pháp về SHTT.

Cũng đã có ý kiến đồng tình từ Cục Bản quyền Tác fake khi cho rằng VCPMC có quyền thu tiền tác quyền theo điều 33 Luật SHTT và điều 35 của Nghị định 100/2006/NĐ-CP. Tuy nhiên, ở 1 góc nhìn khác về mặt pháp lý, người viết bài này cho rằng cần xác định thực chất việc ti vi ở các khách sạn có tiêu dùng bản thu thanh, ghi hình hay đây là chương trình phát sóng – 1 đối tượng khác trong quyền liên đới được Luật SHTT quy định.

Ti vi đang chạy chương trình phát sóng không phải bản thu thanh, ghi hình

Thoạt nhìn thì thấy rằng, việc các khách sạn tiêu dùng nhà cung cấp truyền hình trả tiền để được xem các kênh có phát các tác phẩm âm nhạc, có gì đó tương đồng với việc khách sạn mua các đĩa CD, VCD hoặc mở các bản nhạc trên Internet (bản thu thanh, ghi hình). Bởi điểm chung của hai hành vi này là đều truyền chuyên chở tác phẩm âm nhạc đến mọi người. Tuy nhiên, 1 điều mà ai cũng biết rằng các nhà cung cấp truyền hình trả tiền thì nội dung tổng hợp hơn, ngoài tác phẩm âm nhạc còn có phim, tin tức, thể thao và các nội dung khác để hình thành nên các kênh truyền hình. Vậy thực chất các kênh truyền hình trả tiền có phải là bản thu thanh, ghi hình theo Luật SHTT hay không. Theo ý kiến người viết, các ti vi trong khách sạn không phát các bản thu thanh, ghi hình mà thực tiễn là đang khai thác các chương trình phát sóng từ các nhà cung cấp nhà cung cấp truyền hình trả tiền hay còn gọi là các công ty phát sóng theo Luật SHTT.

Luật SHTT cũng đã liệt kê các đối tượng quyền liên đới trong đó bản thu thanh, ghi hình và chương trình phát sóng là các đối tượng quyền liên đới tách biệt và độc lập nhau. Luật cũng phân biệt rõ đối tượng bảo hộ quyền liên đới đối với bản thu thanh, ghi hình là nhà cung cấp bản thu thanh, ghi hình, khi mà đó công ty phát sóng được bảo hộ quyền liên đới đối với chương trình phát sóng. Đồng thời Luật SHTT cũng tách biệt rõ quyền của nhà cung cấp bản thu thanh, ghi hình và quyền của công ty phát sóng.

Thực tế thì bản thu thanh, ghi hình chỉ đơn faken chứa các tác phẩm âm nhạc khi mà đó các chương trình phát sóng/kênh thường chứa nhiều nội dung khác và bao gồm có PR, nhận tài trợ hoặc không có PR, tài trợ để tạo thành 1 chương trình phát sóng biệt lập có kết cấu nội dung, biên tập và đạo diễn. Ngoài ra người mua bản thu thanh, ghi hình có thể chủ động tiêu dùng các bản này, khi mà đó người mua nhà cung cấp các chương trình phát sóng thì hoàn toàn tiêu cực tiếp thu.

Do vậy, tôi và quý khách hàng chẳng thể đánh đồng và ứng dụng 1 cách rập khuôn và không có cơ sở vật chất luật pháp về các quyền và bổn phận giữa việc tiêu dùng bản thu thanh, ghi hình với việc tiêu dùng các chương trình phát sóng, mà Luật SHTT đã tách bạch là các đối tượng riêng được luật bao bọc.

Quyền thu phí chương trình phát sóng thuộc về ai

Sau khi khiến rõ đối tượng quyền liên đới mà các ti vi đang truyền chuyên chở, 1 việc không thể lãng quên nữa là xác định đối tượng được hưởng quyền thu phí chương trình phát sóng này. Truy xuất từ giai đoạn hình thành chương trình phát sóng, thì bản thu thanh, ghi hình là 1 trong những nguyên liệu đầu vào của các chương trình phát sóng. Điều 33.1 của Luật SHTT cũng quy định công ty, tư nhân tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp bản thu thanh, ghi hình đã ban bố nhằm mục đích thương nghiệp để phát sóng… không phải xin phép, nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác fake, chủ sở hữu quyền tác fake, người phô diễn, nhà cung cấp bản thu thanh, ghi hình, công ty phát sóng bắt đầu từ khi tiêu dùng.

Hướng dẫn về quyền tác fake và quyền liên đới, Nghị định 85/2011 NĐ-CP quy định: khi tiêu dùng các tác phẩm, bản thu thanh ghi hình để cung cấp chương trình phát sóng, công ty phát sóng phải thực hành bổn phận với chủ sở hữu quyền tác fake, chủ sở hữu quyền liên đới theo quy định của luật pháp. Điều này cũng có nghĩa là để tạo ra 1 của nả có quyền liên đới độc lập như chương trình phát sóng, công ty phát sóng đã phải đầu tư nguồn vốn để tạo dựng ra nó.

Nghị định 85 cũng quy định về trường hợp khi công ty, tư nhân tiêu dùng chương trình phát sóng của công ty phát sóng khác để cung ứng đến công chúng thì chương trình phát sóng này sẽ thực hành theo hợp đồng và các quy định luật pháp liên đới. Quy định này được ứng dụng trong thực tiễn khi các nhà cung cấp nhà cung cấp truyền hình trả tiền/công ty phát sóng bán nhà cung cấp truyền hình trả tiền cho mọi người theo số lượng kênh cũng như số lượng ti vi mà mọi người đăng ký. Hay đề cập cách khác công ty phát sóng đã thu tiền phí tiêu dùng chương trình phát sóng của mình đối với các công ty, tư nhân tiêu dùng nhà cung cấp của mình (trong đó có các khách sạn).

Quay quay lại điều 33.1 Luật SHTT kể đến ở trên, có thể hiểu rằng chỉ khi tiêu dùng bản thu thanh, ghi hình trong hoạt động buôn bán thì công ty, tư nhân mới phải trả phí tác quyền, còn khi công ty, tư nhân tiêu dùng chương trình phát sóng thì sẽ thực hành theo hợp đồng với công ty phát sóng.

Tổ chức phát sóng nên đứng ra khiến trọng tâm fakei quyết xung đột lợi ích

Việc VPCMC đứng ra thu tiền bản quyền âm nhạc theo ủy thác của tác fake, chủ sở hữu quyền tác fake, người phô diễn, nhà cung cấp bản thu thanh, ghi hình đối với chương trình phát sóng là không chắc chắn về cơ sở vật chất luật pháp và không thích hợp bởi vì chương trình phát sóng thuộc về công ty phát sóng.

Về góc cạnh kinh tế, việc chủ các khách sạn không đồng ý với việc thu 25.000 đồng/ti vi/phòng cũng hoàn toàn có nguyên nhân vì chủ khách sạn khiến sao tính toán được có bao lăm giờ, có bao lăm tác phẩm được tiêu dùng để đề nghị người thuê nhà cung cấp khách sạn trả số phí này cho khách sạn. Một nguyên nhân khác là dù mức phí 25.000 đồng/ti vi có thể không phải là quá lớn nhưng khi khách sạn đồng ý trả cũng sẽ đồng nghĩa với việc họ thừa nhận rằng VPCMC có quyền thu tác quyền đối với chương trình phát sóng và trong ngày mai ai xin hứa mức phí này sẽ không tăng khi mà đó chủ khách sạn vẫn phải trả tiền mua nhà cung cấp truyền hình trả tiền.

Trong trường hợp, việc ứng dụng khiên cưỡng theo hướng để VPCMC thu tiền tác quyền trên đầu ti vi tại khách sạn trên cơ sở vật chất pháp lý không rõ ràng thì 1 ngày đẹp trời nào đó sẽ đến việc thu tác quyền trên các xe taxi, ô tô buýt có mở các chương trình phát thanh có phát các tác phẩm âm nhạc. Và hậu quả là 1 cuộc bàn cãi mới lại nổ ra tương tự như chuyện thu tác quyền trên ti vi bây giờ.

Do vậy, sẽ là hợp lý về mặt kinh tế và có cơ sở vật chất luật pháp, khi quy định các chủ sở hữu khách sạn sẽ phải trả nhiều tiền hơn cho công ty phát sóng ví thử số lượng kênh phát tác phẩm âm nhạc nhiều. Từ đó các nhà cung cấp nhà cung cấp truyền hình trả tiền cũng phải tự bố trí loại kênh biệt lập có tiêu dùng nhiều tác phẩm âm nhạc để thuận lợi tính phí thuê kênh cho khách sạn.

Về mặt kinh tế có thể thấy trọng tâm của việc tranh chấp lợi ích giữa VPCMC và khách sạn phải là các công ty phát sóng/nhà cung cấp nhà cung cấp truyền hình trả tiền. Một trong những giá bán đầu vào của các công ty phát sóng/nhà cung cấp nhà cung cấp truyền hình trả tiền là giá bán mua bản quyền bản thu thanh, ghi hình và kế quả kinh doanh đầu ra là kế quả kinh doanh bán được từ các kênh/chương trình phát sóng cho mọi người (bao gồm khách sạn). Điều này cũng thích hợp với quan hệ cung-cầu về tác phẩm âm nhạc. Nếu các công ty phát sóng tiêu dùng nhiều tác phẩm âm nhạc (bản thu thanh, ghi hình) thì giá bán đầu vào của họ tăng lên và điều này đồng nghĩa với việc họ phải bán nhà cung cấp của mình ở các kênh chuyên phát các tác phẩm âm nhạc với giá cao hơn. Hay đề cập cách khác trị giá kinh tế của các bản quyền âm nhạc sẽ được thu phê duyệt sự điều tiết của công ty phát sóng.

Nguyên nhân của tranh chấp tác quyền này là do sự không rõ ràng của Luật SHTT hiện hành đối với quyền tác fake và quyền liên đới. Hy vọng trong thời kì tới, các nhà khiến luật sẽ fakei quyết được hạn chế này và ban hành các quy định giúp bao bọc quy trình kinh tế trong xã hội được ổn định, hạn chế trạng thái các tranh chấp về bản quyền âm nhạc đang “leo thang” như bây giờ.

(*) Công ty Luật LTT & Lawyers